
Giang Nguyen Trinh, D.Ph.
Abstract. Rising health care costs, including costs of new drugs, has become an issue of primary and pressing concern for health care providers and organizations. Pharmacoeconomics is a relatively new scientific discipline, which relates any improved outcomes with new drugs to the net cost associated with their usẹ Although pharmacoeconomic analysis has increasingly become an essential tool for policy makers in health care system, its principles and methodology are still not well understood by most of healthcare practitioners. This presentation is aimed at introducing some basic concepts and methods that are commonly used in pharmacoeconomic analysis.
Pharmacoeconomics applies economic principles to evaluate the efficacy of new treatments in relation to costs and quality of lifẹ The goal is to achieve the lowest cost for the desired outcome, with the numerator being cost, and denominator being clinical outcomes. Pharmacoeconomics includes several models such as cost-minimizing, cost-benefit, cost-effectiveness, and cost-utility analysis. Each of the modelsỴ parameters can be estimated by common statistical methods under certain assumptions.
The use of pharmacoeconomics, when combined with sensitivity to the unique needs of individuals, can help create the most cost-effective, outcome-focused, and humane prescription benefit for health care providers, clinicians, and most importantly, patients.
Tóm lược
Phí tổn trong ngành y tế, kể cả chi phí cho thuốc mới
đă gia tăng một cách đáng kể và là mối ưu tư hàng đầu các cơ quan y tế thuộc chính phủ và tư nhân. Dược Khoa Kinh tế (DKKT) một môn khoa học tương đối mới, nhằm mục tiêu kết hợp những tiến bộ lâm sàng với các dược phẩm mới cùng với thực giá trong việc sử dụng các dược phẩm nàỵ Mặc dù DKKT đă được áp dụng từ lâu, công dụng mỗi ngày một gia tăng, một phương tiện thiết yếu cho giới chức trong chính quyền và ngành công nghệâ y tế, nguyên lý và phương pháp của môn học này vẫn còn xa lạ với hầu hết các chuyên viên trong ngành y tế nói chung và giới y sĩ, dược sĩ nói riêng . Bài viết này nhắm vào việc giới thiệu vài khái niệm và phương pháp căn bản thông dụng trong ngành DKKT.DKKT ứng dụng nguyên tắc kinh tế
để đánh giá sự hiệu nghiệm của các phương pháp dược khoa trị liệu mới của thuốc trên phương diện phí tổn và phẩm chất cuộc sống (bệnh nhân khá hơn, hài lòng với tình trạng sức khỏe hơn). Trong DKKT, có một số mô hình phân tích khác nhau như phân tích giảm thiểu phí tổn, phân tích phí tổn-ích lợi, phí tổn-hiệu nghiệm, và phí tổn-hữu dụng. Trong mỗi phân tích, một số thông số cần được ước lượng. Các phương pháp toán thống kê có thể dùng cho việc ước lượng này, với điều kiện các mô hình phải thỏa mãn một số điều kiện giả định.DKKT, khi
được ứng dụng và phối hợp với các chỉ tiêu đặc thù của bệnh nhân, có khả năng đem lại kết quả có hiệu nghiệm nhất, chương trình chăm sóc nhân đạo cho giới cung cấp dịch vụ y tế, bác sĩ, chuyên gia bệnh lý lâm sàng và quan trọng hơn hết là bệnh nhân.Dẫn nhập
Dược khoa Kinh tế là môn học dùng những ứng dụng của những phương pháp trong xã hội và khoa học vật lý
để nghiên cứu những cách trị liệu của thuốc hay dịch vụ y tế khác nhau hầu mang lại kết quả tốt cho ngành săn sóc sức khỏe dân chúng.Bài viết này giải thích
để làm rõ nghĩa những lý luận, phương pháp học, những nguồn biên khảo, cùng giải thích bôán phân tích căn bản của Dược khoa Kinh tệ Sự so sánh những cái lợi và bất lợi của những phân tích này, nhận định những áp dụng của Dược khoa Kinh tế vào việc làm sao chọn lựĩa thuốc thích hợp, phí tổn nhẹ để mang vào trong công thức của nhà thương , tùy từng tiểu bang và trên toàn quốc, được bàn luận đến qua những thí dụ của Dược Kinh tế đă được áp dụng trong thực hành từ những tường trình trong các ấn phẩm chuyên khoa về y tệLịch sử Kinh tế ngành Dược
Kinh tế ngành Dược thật sự ra không liên quan
đến với bất cứ một ngành khoa học đặc biệt nàọ Ngành này tiến triển qua những biên soạn khảo cứu khoa học. Phương pháp khảo cứu dùng trong môn Dược Kinh tế (có nghĩa là những phân tích tối thiểu hóa phí tổn, phí tổn-ích lợi, phí tổn , phí tổn-hiệu nghiệm, phí tổn hữu dụng, đánh giá phẩm chất cuộc sống) được trích lấy ra từ nhiều phạm vi khác nhau, gồm kinh tế, dịch tễ học , dược khoa, y khoa, và khoa học xã hội1.Dược khoa Kinh tế là một môn học tương
đối còn mớị Xét về phương diện lịch sử, ngành Dược Kinh tế bắt nguồn từ khoa Kinh tế học. Ngành Kinh tế chuyên nghiên cứu về sức khỏe khởi thủy từ những năm 1960 đă đề cập đến cách sử dụng những dữ kiện kinh tế để phân tích y tế, và những vấn đề liên quan đến sức khỏe 2. Kenneth Arrow, một kinh tế gia đă được giải thưởng Nobel, trong một bài viết nòng cốt xuất bản năm 1963, đă phân biệt rõ ràng thị trường của ngành Dược Kinh tế ra khỏi những thương phẩm thông thường. Chính bài viết nổi tiếng này đă đặt nền tảng cho việc áp dụng kinh tế vào kết quả của ngành y tế sức khỏe 3.Trong những n
ăm 1970s, DKKT bắt đầu có chỗ đứng trong ngành giảng huấn. Năm 1978, McGhan, Rowland, và Bootman, cả ba đều thuộc trường Ðại Học Minnesota, đă giới thiệu những khái niệm về phân tích phí tổn-ích lợi, phí tổn-hiệu nghiệm trong báo chuyên khoa American Journal of Hospital 4. Trong những năm đầu của 1980s, những công cụ đo lường để đŕnh giá những kết quả y tế đă thành hình sau nhiều sửa đổi cho được hoàn mỹ hơn.Trong những n
ăm cuối của 1980s, DKKT đă chính thức ra đời, và được coi như một thành phần của phạm vi nói về giá trị của môn kinh tế cho y tế, sức khỏe 5.Trong những n
ăm 1990s, phí tổn ngành y tế sức khỏe mỗi lúc một tăng cao mà nguồn tài chính thì có giới hạn, nhũng điều này đă tạo nên áp lực làm cho những người quan tâm và giữ nhiệm vụ quản trị ngân sách phải phỏng định chi phí cho dịch vụ bảo vệ sức khỏẹ Từ những thay đổi cần thiết này, Kinh tế ngành Dược đă biến đổi từ một môn học lý thuyết sang khoa học thực hành. Hiện nay DKKT đă có mặt trong chương trình giảng huấn tại các Ðại học Dược khoa trong nhiều chương trình PharmD. Một số Ðại học Dược khoa trong hệ thống của Hoa kỳ có chương trình học chuyên môn (hậu Ðại học Dược khoa) về DKKT cho những Dược sĩ đă tốt nghiệp Dược khoạTheo bản dự trù hàng n
ăm về phí tổn thuốc của Mehl B, Santell J 6, chi phí thuốc tăng trong khoảng từ 11 đến 15% trong năm 2001. Phí tổn nghiên cứu và phát triển từ $24 tỷ năm 1999 đă lên đến $26.4 tỷ năm 2000 và sẽ còn cao hơn nữa trong năm 2001. Kỹ nghệ thuốc đồng chủng dự trù lên đến $20 tỷ vào năm 2005 ( $12 tỷ /năm 1999, $14 tỷ /năm 2000). Chi phí tổng quát cho ngành Y tế trong vài năm trước đăõ gia tăng cho mỗi năm trong khoảng trên 10% tôạng số các sản phẩm quốc nội (gross domestic product-GDP), nhưng con số thật sự còn cao hơn nữa, thí dụ chi phí tổng quát cho ngành y tế (national health expenditure-NHE) chiếm 10.5 % tổng số sản phẩm quốc nội (gross domestic product = GDP) năm 1988, 12% năm 1990, 13.5% năm 1997, và 14.2 % GDP cho năm 19997. Trong năm năm tới con số này được dự trù có thể lên đến 15% cho mỗi năm. Những lý do quan trọng làm giá thuốc càng ngày càng tăng vì các dược phẩm mới càng ngày càng được sản xuất từ công nghệ sinh học (biotechnology) nên phí tổn rất cao, các hãng dược phẩm tốn rất nhiều tiền để quảng cáo trựĩc tiếp thuốc đến người tiêu thụ qua báo chí, truyền hình , v.v...cùng nhân số thế hệ người dân lớn tuổi đă bắt đầu tăng cao nên bắt đầu dùng nhiều thuốc hơn.Mục
đích chính của DKKT là giúp giới phụ trách ngân khoản về thuốc, bảo hiểm sức khỏe cùng các dịch vụ liên hệ tìm được những phương pháp làm giảm được phí tổn về thuốc mỗi ngày một gia tăng đáng kể mà đồng thời vẫn có thể bảo đảm phẩm chất tốt cho việc săn sóc sức khỏe dân chúng.Dược khoa Kinh tế Học
DKKT nói
đơn giản là phương thức tìm kiếm sựĩ quân bình giữa chi phí với những hiệu quả của ngành dược trị liệu và dịch vụ liên hệ DKKT không phải chỉ nhắm vào phí tổn hay lợi nhuận thu được từ dược phẩm mà còn nhìn vào hiệu quả của dược phẩm trên phương diện trị liệu cùng những chi phí trong dịch vụ chăm sóc sức khỏẹ DKKT coi trọng giá trị của thuốc trên phương diện cải thiện tình trạng bệnh hay làm giảm chi phí toàn diện và đồng thời duy trì được phẩm chất của dịch vụ bảo vệ sức khỏẹThử nhìn vào số lượng sách báo chọn lọc chuyên môn và con số những bản tường trình thử nghiệm hiện diện trên những trang nhà mạng lưới
điện vi tính trên phương diện phí tổn và kết quả hiệu nghiệm, ta mới nhận thấy ngành Kinh tế Dược liên quan mật thiết đến những dịch vụ sức khỏe của dân chúng. Ngoài những báo Y khoa nổi tiếng trên thế giới như the Britist Medical Journal (BMJ), New England Journal of Medicine (NEJM), Annals of Internal Medicine, Lancet, Journal of the American Medical Association (JAMA), v.v...đều có đăng những bài nói về kết quả những nghiên cứu kinh tế trong ngành Kinh tế Dược; những báo chuyên khoa chọn lọc như American Journal of Health System Pharmacy, Formulary, Hospital Pharmacy, Annals of Pharmacotherapy, Disease Management & Health Outcomes v.v...thường xuyên có bài viết về Kinh tế ngành Dược; những báo chuyên về Kinh tế và sức khỏe như Pharmacoeconomics, Journal of Health Economics, Drug Benefit Trends, International Journal of Technology Assessement in Healthcare v.v...,là những báo chuyên nghiên cứu về ngành Dược Kinh tệTrên trang lưới Medline hay PubMed,
đề tài về delivery healthcare từ năm 1995 đến 2001, đă có hơn 700,000 bản tường trình, trong đề tài cost benefit analysis hay cost effectiveness analysis ta nhận thấy có từ 500,000 đến trên 600,000 tường trình đủ loại thử nghiệm hiện diện. Hay thêm một chút chính xác hơn nữa riêng đề tài pharmacoeconomic và cost effectiveness analysis trong Medline ta thấy có sự gia tăng đáng kể những kết quả thử nghiệm như sau: 1996 ( 92,250 ), 1997 (98,124), 1998 (103,384), 1999 (108,073), 2000 (118,963).Quan
điểm/ Viễn cảnh (Perspective)Qua lịch sử của ngành DKKT và sự phát tiển mỗi ngày một rộng lớn hơn của ngành này, quan
điểm/viễn cảnh của đề tài nghiên cứu cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Ðiểm quan trọng nhất là cần phải xác định sự nghiên cứu phân tích DKKT này nhắm vào quan điểm (viễn cảnh/đối tượng ) nào, vì mỗi viễn cảnh sẽ ngự trị một số biên khảo hay phương pháp kết quả thu thập khác nhaụPhạm vi kết quả của Dược Khoa Kinh tế gồm ba
đối tượng chính: cho xã hội, cho cơ quan, và cho cá nhân. Bản chất của sự khảo sát thường căn cứ trên đối tượng chọn lựạ Thí dụ như , một khảo sát nhắm vào sự giảm hiệu lực của sản phẩm thô của quốc gia thì đối tượng là xã hội, nếu khảo sát này nhăém vào làm sao giảm chi phí cho thuốc mang vào công thức thì đối tượng là cơ quan quản trị y tệNếu khảo sát nhắm vào làm sao tìm
đuợc phí tổn thấp cùng phẩm chất cuộc sống của từng cá nhân được khá hơn thì viễn cảnh là cá nhân. Mỗi viễn cảnh có một loạt câu hỏi khác nhau, ước tính phí tổn trong mỗi trường hợp cũng mang một số câu trả lời khác nhau 8.Phí tổn
Ngoài những viễn cảnh khác nhau, phí tổn cũng chia ra rất nhiều loạị Trong Dược Khoa Kinh tế, phí tổn
được định nghĩa như là những chi phí gánh chịu dùng để cung cấp sản phẩm và dịch vụ y tệPhí tổn nói chung gồm có phí tôạ cố
định (fixed cost), phí tổn bất định (variable cost), phí tổn y tế trực tiếp (direct medical cost), phí tổn y tế gián tiếp (direct nonmedical cost), phí tổn trực tiếp (direct cost), phí tổn trung bình (average cost), phí tổn bên lề (marginal cost), phí tổn vì cơ hội bắt buộc (opportunity cost), và phí tổn trong tương lai ước tính với thời giắdiscount) 9.
Những phạm vi khác nhau trong Dược Khoa Kinh tế
Trong quá khứ , khi
đánh giá một loại thuốc mới, những người giữ trọng trách mua thuốc cho các cơ quan dịch vụ y tế thường căn cứ trên các kết quả thử nghiệm lâm sàng liên quan đến độ an toàn và hiệu nghiệm của thuốc. Hiệu nghiệm thường đo khả năng của một dược phẩm đă được trải qua một thử nghiệm lớn và có kết quả tốt. Tuy nhiên sựĩ hiệu nghiệm của thuốc trên thị trường dưới sự sử dụng rộng rãi của giới y dược không mấy giống như trong các thử nghiệm. Kinh tế ngành Dược chú trọng đến sựĩ hữu hiệu và hữu dụng thật sựĩ của thuốc trên dân chúng hơn là hiệu nghiệm được tường trình bởi hãng thuốc qua những công trình thử nghiệm lâm sàng trên một số bệnh nhân tình nguyện và theo một loạt tiêu chuẩn đă được ấn định trước.Phương pháp học về DKKT
Sựĩ dùng những bản nghiên cứu kinh tế
đă được áp dụng vào y khoa thựĩc hành từ lâu, những tường trình kinh tế này đă được chú ý nhiều và là phương tiện giúp ngành liên quan đến dịch vụ sức khỏe tìm cách phát triển những mô hình trong ngành DKT.Phần này nói về những nguyên tắc c
ăn bản để hướng dẫn và đánh giá những thử nghiệm Kinh tếâ trong ngành Dược dùng để khuyến khích hay không chấp nhận sự sử dụng một dược phẩm hay một dịch vụ y tế .Ðịnh nghĩa
Nghiên cứu Dược Khoa Kinh tế có mục
đích nhân định, đo lường, tính toán , và so sánh phí tổn (nguồn tài nguyên tiêu thụ) và kết quả ( ích lợi/hiện kim,hiệu nghiệm, phẩm chất cuộc sống, hữu dụng, hiệu lực, an toàn, thông kê về bệnh, số tử vong) của những sản phẩm bào chế trong ngành Dược.Mô hình Dược Khoa Kinh tế/ Kiểu nghiên cứu (Research Design)
Tùy theo kiểu
định giá DKKT, nghiên cứu gia có toàn quyền lựa chọn kiểu nghiên cứu và những biên khảo đă có sẵn trong văn học để làm phân tích. Sự chọn lựa phân tích kết quả có thể là riêng biệt cho từng phân tích hay hỗn hợp của phí tổn-ích lợi, phí tổn-tối thiểu, phí tổn-hiệu nghiệm, phí tổn-hữu dụng hay phẩm chất cuộc sống10.Ðiểm quan trọng ở
đây là những nghiên cứu DKKT thường dùng tổ hợp biên khảo của nhiều nguồn khác nhau với mục đích để tránh những chủ kiến có thể có của những kết quả thử nghiệm lâm sàng11.*Những nguồn biên khảo DKKT
đầu tiên (Primary pharmacoeconomic data sources)1- Thử nghiệm có kiểm soát và bất chợt/ngẫu nhiên (randomized controlled trials = RCTs). RCTs thường tạo nên
để đo mực an toàn và hiệu nghiệm của sản phẩm. Hiện nay những thuốc muốn có triển vọng được chấp thuận cho vào công thức đều phải dùng những thử nghiệm loại này để đánh giá trị của thuốc. Loại RCTs này thường chứa dữ kiện được kiểm soát kỹ luỡng và đầy đủ yếu tố thống kê để dò tìm những khác biệt đáng kể trong cách điều trị, những dữ kiện thu thập thường từ biên khảo ghi lại sau khi đă vào thử nghiệm( prospective data), khác với những biên đồ thu thập những dữ kiện trong quá khứ ( retrospective) nghĩa là không phải khi ở trong thử nghiệm12.2- Những nghiên cứu quan sát (observational studies) dùng những biên khảo
đồ thật sự ngoài đời( thí dụ như lấy từ chẩn y viện, nhà thương, cơ quan y tế quản trị MCOs). Loại quan sát này thường đo lường độ hiệu nghiệm của thuốc , và thường phản ảnh sự săn sóc thông thường trên bệnh nhân. Loại nghiên cứu này thường được làm trong nhà thương với mục đích dùng trong nội bộ, thí dụ như chính sách dùng thuốc hay quyết định của ban quản trị để cho thuốc vào công thức.. Vì loại nghiên cứu này có tính cách làm tại chỗ cho nên khó mà dùng kết quả này áp dụng cho một địa điểm khác có một dân số bệnh nhân khác12.3- Mô hình kinh tế (economic models) phương pháp này
đôi lúc cần dùng đến khi những bản so sánh lấy ra từ nhiều nguồn khác nhaụ Ðề tài này sẽ bàn luận trong một tiết mục khác.*Những nguồn biên khảo DKT phụ thuộc (Secondary pharmacoeconomic data sources)
1- Những biên khảo ngược trở lại (retrospective databases). Những nguồn biên khảo này gồm những biên khảo lấy từ cơ quan quản trị y tế , từ phòng lưu trữ hồ sơ bệnh lý trong nhà thương, chẩn y viện, hay v
ăn phòng khám bệnh của bác sĩ, thường được dùng để tìm thuốc thích hợp cho vào công thức . Lợi điểm của phương thức này là dữ kiện thật sự, lấy ra tương đối dễ dàng. Giới hạn của phương thức này là phẩm chất của những dữ kiện thay đổi tùy theo những cơ quan quản trị hay những địa điểm khác nhaụHơn nữa nếu dữ kiện lưu trữ qua hệ thống mã số thí dụ như DRG hay ICÐ9 có thể không
đồng nhất.2- YÙ kiến của những chuyên gia bệnh lý lâm sàng ( expert clinical opinion) cũng
đươc coi là quan trọng trong những trường hợp những biến số bị thiếu sót và phân tích nhạy cảm phải được dùng đến.3- Ðịnh giá trị thuốc dùng ( drug use evaluation= DUE/ or drug use review=DUR) cũng tốt khi dùng
để tìm chi phí và hiệu nghiệm của thuốc tại một địa điểm cố định như nhà thương hay cơ quan quản trị y tế nào đọ DUEs có thể tính cả phẩm lẫn lượng. Mục đích của lượng DUEs là phát triển khuynh hướng và thời gian dùng thuốc ở những trình dộ khác biệt trong một hệ thống săn sóc sức khỏẹ Mục đích của phẩm chất DUEs là xem thuốc dùng có thích hợp không. Tóm lại mục đích của những thử nghiệm loại DUEs này là dò tìm và tính toán những vấn đề khi thuốc được dùng và nêáu kết quả của những biên khảo này cho thấy có sự bất lợi của thuôác thì thuốc có thể thay đổi trong việc sử dụng12.4- Nguồn ấn phẩm. Như
đă nói ở phần trên của bài viết này, những nguồn tài liệu về DKKT với những kết quả thử nghiệm rất nhiều trên ấn phẩm đủ loạị Trước khi dùng những kết quả thử nghiệm từ báo chuyên môn này , những bài tường trình này cần phải được đánh giá kỹ lưỡng qua những bảng hướng dẫn để làm sao hoàn tất một bản nghiên cứu DKKT .Phân loại
Phương pháp học về DKKT có thể
được chia ra làm bốn loại căn bản. Ðó là: phân tích giảm thiểu phí tổn CMA), phân tích phí tổn - ích lợi (CBA), phân tích phí tổn -hiệu nghiệm (CEA) và phân tích phí tổn -hữu dụng (CUA)Mô hình của bảng phân tích DKKT
Phí tổn ( $) ----------> Rx ---------> Kết quả cuối cùng (outcomes)
Bảng 1.
|
Phương pháp |
Ðơn vị đo lường Phí tổn |
Ðơn vị đo lường Kết quả |
|
Phân tích giảm thiểu phí tổn (CMA) |
Hiện kim |
Giả định tương đương trong mỗi nhóm |
|
Phân tích phí tổn và ích lợi (CBA) |
Hiện kim |
Hiện kim |
|
Phân tich phí tổn và hiệu nghiệm (CEA) |
Hiện kim |
Ðơn vị tự nhiên( số n ăm sống sót thêm, áp huyết mm Hg , lượng đường trong máu |
|
Phân tích phí tổn và hữu dụng (CUA) |
Hiện kim |
Số n ăm sống sót thêm đă điều chỉnh phẩm chất hay những phương tiện hữu dụng khác |
Trong bốn phân tích trên, hai
đơn vị đo lường được dùng là phí tổn và kết quảÐo lường phí tổn của cả bốn loại là hiện kim
Ðo lường kết quả khác biệt cho mỗi phân tích.
1-Phân tích giảm thiểu phí tổn (cost-minimizing analysis-CMA)
Phân tích giảm thiểu phí tổn (CMA) có mục đích so sánh phí tổn của dược phẩm hay những dịch vụ đă được coi như cho một hiệu quả trị liệu giống nhau. Khi hai kết quả (an toàn và hiệu nghiệm) của hai điều trị hay nhiều hơn nữa được coi như bằng nhau, phân tích này được dùng. Ðiều quan trọng và cũng là điểm bất lợi trong CMA này là phải giả dụ rằng các thuốc trong phân tích này đều có hiệu nghiệm giống nhau về trị liệu kể cả phản ứng tương tác có thể xẩy ra, nhưng chỉ khác nhau về phí tổn; thuốc rẻ tiền nhất sẽ được dùng.
Thí dụ điển hình cho loại phân tích này là so sánh một thuốc có tên đặc chế với thuốc đồng chủng
Hai loại thuốc angiotensin converting enzyme inhibitors (ACEIs) Vasotec và enalapril , giá trên thị trường cho thấy enalapril rẻ hơn Vasotec, người giữ nhiệm vụ chọn thuốc sẽ chọn thuốc có tên đồng chủng enalapril rẻ phí tổn hơn để cho vào công thức.
Một thí dụ khác , sự so sánh hai angiotensin-converting enzyme (ACE) inhibitors có cùng một cơ chế tác dụng cho biết rằng thuốc A cho nhiều phản ứng phụ bất lợi, thuốc B cho rất ít phản ứng phụ. Một phân tích kỹ lưỡng cần được thực hiện gồm cả hai phần lâm sàng và kinh tế trước khi áp dụng phân tích giảm thiểu phí tổn này. Nếu kết quả so sánh không xác định được sự hiệu nghiệm và an toàn của cả hai trên phương diện lâm sàng thì CMA không thể được áp dụng.
2-Phân tích phí tổn - ích lợi (cost-benefit analysis-CBA)
Cả hai đơn vị đo lường của phân tích này (phí tổn và ích lợi) đều tính theo hiện kim ( xem bảng 1), có nghĩa là trên số tiền phải chi ra và thu vào. Ðiểm khác biệt giữa phân tích này với phân tích giảm thiểu phí tổn ở trên là ngoài phí tổn tính toán xem có thể tiết kiệm được bao nhiêu tiền, CBA còn trú trọng đến ảnh hưởng kết quả ích lợi nữa. Mục đích của phân tích phí tổn- ích lợi này là tìm và chứng nhận dược phẩm nào cho kết quả tối hậu tốt nhất với số tiền ấn định. Kết quả của CBA được diễn tả như một tỷ lệ phí tổn/ích lợi hay là phí tổn ròng (net cost) hay ích lợi thật sự. Mặc dù được gọi là tỷ lệ phí tổn/ích lợi. cách tính toán tỷ số ích lợi trên phí tổn thường dễ hiểu hơn13 vì nó cho ta một tỷ số lớn hơn 1:1.
Thí dụ về phí tổn-ích lợi
*Mỗi năm có từ 16 đến 33 triệu trường hợp trẻ em nhỏ hơn 5 tuổi bị bệnh sốt thương hàn, kết quả có thể tới 600,000 tử vong. Hầu hết những trường hợp này đều xẩy ra ở vùng Ðông Nam A¨ Châu, đó là vùng mà sư lờn thuốc trụ sinh đủ loại gia tăng đáng kể. Với những vùng đă có dịch địa phương do sựï lờn thuốc trụ sinh, cách tốt nhất là chủng ngừa để kiêåm soát sư gia tăng tỷ lệ bị bệnh và tỷ lệ tử vong. Nếu tỷ lệ mắc bệnh và tử vong giảm , cơ quan y tế địa phương sẽ tiết kiệm được một số tiền phải dùng để mua thuốc14.
Một Dược phòng độc lập muốn có một dịch vụ lâm sàng. Họ dùng CBA để ước lượng phí tổn và lợi nhuận của hai dịch vụ đang đề nghị với họ. Dịch vụ lâm sàng A tốn cỡ $40,000 cho thiết lập khởi đầu và điều hành cho năm thứ hai và ba là $20,000 mỗi năm. Dịch vụ B tốn cỡ $35,000 cho tổng phí tổn năm đầu và $25,000 cho năm thứ hai và năm thứ ba . Dịch vụ B ước lượng sẽ mang lại lợi tức thêm vào cỡ $30,000 cho mỗi năm kể cả ba năm. So sánh hai dịch vụ lâm sàng này ta thấy dịch vụ B mang tỷ lệ ích lợi/phí tổn cùng lợi nhuận cao hơn dịch vụ A.
Methodist Healthcare-Central Hospital (MH-CH) làm một phân tích cân nhắc có nên thay thế một loại trụ sinh trị khác, ceftriaxone (Rocephin) vào công thức hay không khi mà họ đă có cefotaxime (Claforan) trong công thức từ hơn hai năm qua, giả định cả hai đều có cùng một hiệu quả. Ceftriaxone có lợi điểm chỉ dùng ngày một hay hai lần so sánh với cefotaxime phải dùng ba hay bốn lần một ngày. Vì kết quả đă coi như giống nhau, phân bộ Dược nhà thương chỉ cần tìm tổng cộng phí tổn trực tiếp để quyết định. Phí tổn trực tiếp gồm phí tổn hàng ngày về giá tiền thuốc, thời gian y tá phải ở cạnh bệnh nhân để cho thuốc. Từ lối cân nhắc này dù thuốc mắc hơn nhưng số lần cho thuốc, thời gian sửa soạn cho bệnh nhân dùng thuốc thấp hơn thì vẫn có lợi hơn.
Phân tích phí tổn-ích lợi này có lợi điểm giúp cho nhừng người phải quyết định trong ngành chăm sóc sức khỏe so sánh kết quả trên giá trị số tiền chi ra.
Tuy nhiên phân tích phí tổn - ích lợi có khuyết điểm ở chỗ không thể dùng số tiền để nhìn đoán và dựï trù được số năm bệnh nhân có thể sống thêm, điểm này có liên quan đến vấn đề xã hội và đạo đức.
3- Phân tích phí tổn - hiệu nghiệm (cost-effectiveness analysis-CEA)
Phân tích phí tổn - hiệu nghiệm này là một nghiên cứu mà phí tổn của thuốc hay dịch vụ ở đây được dùng để so sánh với kết quả trị liệu. Giống như những phân tích kia, phân tích phí tổn-hiệu nghiệm dùng hiện kim làm đo lường phí tổn nhưng dùng đơn vị tự nhiên làm đo lường cho kết quả . Những đơn vị tự nhiên gồm cứu sống bệnh nhân, khỏi bệnh hay kiểm soát được áp huyết cao, kiểm soát được lượng đường trong máu.
Loại này so sánh phí tổn của cách trị liệu thay thế với một kết quả đo lường thông thường. Tất cả phí tổn từ tiền thuốc, thử nghiệm máu, thử nghiệm chẩn định bệnh, trị liệu phản ửng bất lợi hoặc trị liệu thất bại đều phải được liệt kê
Phân tích loại này được áp dụng nhiều nhất trong ngành Dược.
Thí dụ
a- Với mục đích làm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh nhồi máu cơ tim ( myocardial infarction), ta áp dụng phân tích loại này tìm nhiều cách khác nhau để có thể làm giảm bệnh áp huyết cao và tìm thuốc nào, trị liệu nào ít tốn kém nhất cho một năm sống sót . Nếu thuốc A tăng thêm được hai năm tuổi đời với một tổng cộng phí tổn là $3,000, tỷ số phí tổn với hiệu nghiệm coi như là $1,500./mỗi năm sống thêm. Tuy nhiên nếu thuốc B tăng tuổi đời mỗi năm là $1,200 thì hiển nhiên thuốc B sẽ đượïc chọn trong hai thuốc đó.
b- Phí tổn - hiệu nghiêäm về thuốc trầm cảm ( antidepressants). Sự có mặt của rất nhiều thuốc trị trầm cảm đặc chế mới trên thị trường đă làm phí tổn tăng đáng kể khi chữa trị bệnh nhân bị bệnh này. Ở đây, chúng ta phải tìm và so sánh xem giữa thuốc trị trầm cảm loại tricyclic antidepressants (TCAs) và loại selective serotonin-reuptake inhibitors (SSRIs) có ảnh hưởng, kết quả, hiệu nghiệm ra sao trên bệnh nhân ngoài đời chứ không phải chỉ những bệnh nhân dùng thuốc trong giai đoạn thử nghiệm.
Trong một bản tường trình về CEA cuả Panzarino, những yếu tố gồm tiền thuốc, dùng chung với thuốc khác, điều chỉnh độ lượng, thời gian cần uống nhiều thứ thuốc khác nhau là những điểm chính yếu để xác định phí tổn của thuốc thuộc nhóm SSRIs để trị trầm cảm.
Phân tích này cho biết thuốc SSRIs dùng trong bối cảnh ngoại chẩn hay cơ quan quản tri y tế cho kết quả thuốc tuy đắt hơn nhưng bệnh nhân ít bị phản ứng ngoài lề của thuốc, ít phải đi khám bệnh bác sĩ , không phải theo dò thử nghiệm máu thường, không phải đổi thuốc, đỡ bị nhập viện hơn khi dùng TCAs nên bản tường trình đă kết luận thuốc SSRIs nên được dùng15.
c- Những người già có áp huyết cao và bệnh động mạch vành tim (established coronary heart disease) thuờng hay bị gặp những biến cố tim mạch như bị não kích /đột quỵ (stroke), nhồi máu cơ tim (myocardial infartion), và suy tim ( heart failure). Những thử nghiệm lâm sàng cho thấy ngoài thuốc trị áp huyết cao cho bệnh nhân uống thuốc trị cao mỡ trong máu (hypercholesterolemia) loại statin để ngăn ngừa bệnh động mạch tim rất có hiệu quả để giảm tỷ lệ số bệnh (morbidity) xẩy ra. Phân tích phí tổn và hiệu quả của ngành Dược Kinh tế nếu chứng minh được sựï dùng hỗn hợp thuốc trị cao máu và statin để kiểm soát lượng chất cholestreol trong máu thật sựï có hiệu quả tốt thì hãng bảo hiểm tiết kiệm được một ngân khoản phải bồi hoàn tiền mua thuốc cho bệnh nhân qua Dược phòng16.
d - Thuốc mới trị bệnh Alzheimer rất tốn kém để trị liệu. Một bản nghiên cứu của Neumann về ngành chữa bệnh Tâm thần đă được thực hiện. CEA cho thấy có sự liên quan giữa nguôàn tài liệu dùng và sự có lợi cho sức khỏe của bêänh nhân khi được chữa trị bằng thuốc, nếu so sánh với một lối chữa trị khác. Trong phân tích để điều trị bệnh nhân bị bệnh lãng trí này, phí tổn gồm tất cả chi phí cho thử nghiệm chẩn bệnh, thuốc, những nỗ lực để theo dõi việc điều trị, kiểm soát được phản ứng phụ, săn sóc trong bệnh viện nếu cần thiết, dịch vụ y sĩ, dịch vụ săn sóc tại gia, nhà nuôi dưỡng người già cả đều được kể; ngoài ra những dịch vụ như trả phí tổn cho những người chăm nom người bệnh, thời gian thân nhân phải chăm sóc người bệnh, phải nghỉ làm để lo lắng cho người bệnh cũng dược bao gồm . Sự hiệu nghiệm của thuốc được đo lường trên tình trạng khả quan hơn của bệnh nhân trong viêc ý thức mọi việc xẩy ra chung quanh, hay số năm sống thêm và phẩm chất cuộc sôáng khá hơn của những năm còn sống sót này17.
Những bản phân tích phí tổn -hiệu nghiệm này đă giúp những người phải quyết định so sánh hai ba thứ thuốc khác với nhau và chọn lựïa được dễ dàng hơn. Tuy nhiên lối phân tích này có khuyết điểm là đặt giả định mỗi năm sống thêm của mọi người đều có giá trị tương tựï như nhau.
Bảng 2.
|
Alternatives |
Total cost for 100 patients |
Number of cure % |
Average C-E ratio |
|
Antibiotic A |
$50,000 |
90 |
$50,000/90 cures = $ 555 per cure |
|
Antibiotic B |
$100,000 |
95 |
$100,000/95 cures =$ 1,053 per cure |
C-E = cost-effectiveness.
Tỉ số t
ăng xuất C/E được tính như sau:[ phí tổn trụ sinh A - phí tổn trụ sinh B] / [ 95 khỏi 90 khỏi ] = $ 10,000 cho mỗi trường hợp khỏi bệnh.
Tỉ số phí tổn-hiệu nghiệm
được tính bằng hai lối hoặc dùng tỉ số trung bình hay tỉ số tăng xuất. Tỉ số tăng xuất C/E gồm những phí tổn phụ trội cần thiết để được thêm lợi ích. Thí dụ như trong bảng 2.Trụ sinh A cho 90% chữa khỏi bệnh, tổng số phí tổn cho 100 bệnh nhân là $50,000, tỉ số trung bình C/E sẽ là $555 cho mỗi bệnh nhân khỏi bệnh. Tương tự, tỉ số cho trụ sinh B là $1053. Trụ sinh B tuy chi phí cao hơn nhưng chữa
được thêm người nữa khỏi bệnh.Khi quyết
định bỏ thuốc nào vào công thức, tỉ số tăng xuất C/E thường được tính. Nếu so sánh tỉ số trung bình ( $555 so với $1053), trông giống như lợi ích thêm được với trụ sinh B đă phải tốn thêm $498. Nhưng thật ra chi phí thêm vào này trải rộng cho tất cả 100 bệnh nhân được điều trị. Tỉ số tăng xuất này, tùy theo độ nặng nhẹ của sự nhiễm trùng, mà có thể tính toán suy luận khác nhau12.4- Phân tích phí tổn - hữu dụng. ( cost-utility analysis-CUA
)Ðây là phân tích có tỉ số phí tổn và kết quả trị liệu liên quan đến chi phí của thuốc hay dịch vụ cùng lưu ý đến tình trạng bệnh nhân hơn.
Cũng giống như phân tích phí tổn - hiệu nghiệm, phân tích phí tổn-hữu dụng dùng những đơn vị tự nhiên ( cứu sống bệnh nhân, khỏi bệnh, kiểm soát được áp huyết cao, kiểm soát được lượng đường trong máu) làm nguồn đo lường kết qua cho chi phí hay dịch vụ, nhưng phân tích này được điều chỉnh theo bệnh nhân hay độ hữu dụng. Hữu dụng nói một cách dễ hiểu là độâ thỏa mãn, ưng ý với thứ thuốc đó hay dịch vụ.
Trong phân tích này, phí tổn đo lường trên hiện kim và hiệu quả thường tính trên phẩm chất cuộc đời điều chỉnh số trên số năm sống sót thêm (quality adjusted life years-QALYs).
Phẩm chất cuộc sống đă được điều chỉnh trên số năm sống sót thêm( QALYs), nói một cách dễ hiểu là những tháng năm sống còn lại có thoải mái, có ý nghĩa hơn, đỡ khổ sở vì bệnh tật hơn.
Vì giá trị của kéo dài cuộc sống phụ thuộc vào chức năng trong tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân trong lúc trị liệu , phân tích này căn cứ vào nghiên cứu sựï sống còn của một số bệnh nhân của một thành phần quần chúng hay xã hội . Sựï hữu dụng là một thể thức kinh tế đo lường sựï thích hợp của cá nhân, trong một từng lớp giai cấp, hay trong một tình trạng sức khỏe đặc biệt.
Có ba phương pháp dùng để xác định sựï hữu dụng cho một tình trạng sức khỏe đặc biệt; đó là trò chơi chuẩn (đánh bạc thông thường = standard gamble), đổi chác thời gian (time trade-off), và định mực bệnh tật trên thang đồ (rating scales).
*Trò chơi chuẩn. Mỗi một chủ thể được đề nghị hai giải pháp thay thế nhau. Giải pháp thứ nhất là trị liệu có thể mang lại hai kết quả rất khác nhau: hoặc là sống sót khỏe mạnh lại hay là chết liền. Giải pháp thứ hai có thể mang lại một kết quả giới hạn nào đó cho một bịnh kinh niên, nó sẽ kéo dài suốt đời.
Xác suất (probability = p) đang chết dần thay đổi đến tận khi không thấy sự khác biệt giữa hai thay thế trên. Thí dụ một người có hai chọn lựa: hoặc thay thận với xác suất 20% có thể chết trên bàn mổ hay thẩm tách (= lọc thận/dialysis) suốt đời.
* Ðổi chác thời gian có nghĩa là đổi tuổi đời (tuổi thọ) để lấy một cuộc sống có ý nghĩa hơn. Phương pháp này cũng có hai lựa chọn: một là cứ ở một tình trạng nào đó trong một thời gian hạn định t rồi sau đó sẽ chết, hai là khỏe mạnh trong một thời gian ngắn hơn rồi sẽ chết. Thí dụ một người phải quyết định là muốn sống 50 năm nhưng bị mù hoàn toàn hay sống được 25 năm nhưng vần nhìn được.
* Ðịnh mực bệnh tật trên thang đồ (rating scales). Một cách dễ hiêåu ta coi bệnh tật như là một điểm trên nhiệt kế với độä hoàn toàn khỏe mạnh ở trên cùng 1.0 (100) và chết ở tận cùng 0.0 (0). Một tình trạng bệnh tật được giải thích đơn giản như nằm ở trên phần nào trên mực thang đồ này.
Phân tích phí tổn và hữu dụng này có thể được áp dụng trên toàn quốc và sự ước tính trên phẩm chất điều chỉnh theo số năm còn sống sót (QALYs) trong phân tích loại này đă được dùng để so sánh một số trị liệu và dược phẩm18.
Ðơn vị QALYs bao gồm phẩm chất và phẩm lượng cuộc đời . QALYs rất khó mà đo lường được chính xác . Khác với CEA , trong CEA đơn vị kết quả tựï nhiên được dùng, nhưng khó mà có thể cho rằng tình trạng sức khoẻ của mọi người đều giống nhau thí dụ một người có 10 năm khoẻ mạnh hoàn toàn và một người có 10 năm sức khoẻ tồi tệâ. Trong CUA, khi tính QALYs, một năm khỏe mạnh được sắp xếp trên một mực thang đồ từ khoẻ hoàn toàn 1.0 QALY đến chết là 0.0 cho mỗi năm .
Khía cạnh lợi ích của phương pháp này là kết quả của các tình trạng sức khỏe khác nhau có thể so sánh với nhau vì cùng dùng chung một đơn vị QALY mà không cần đặt giá trị tiền nong vào (như CBA). Ðiểm bất lợi của phương pháp này là rất khó mà xác định hay đo lường chính xác được giá trị của QALY.
Thí dụ.
Một số bệnh nhân bị mắc bệnh gọi là ngất xỉu do sự kích thích dây thần kinh số mười (vasovagal syncope). Dây thần kinh đối giao cảm này có thể gây nên kích thích làm bệnh nhân ngất xỉu, nó xẩy ra bất thường đôi khi chỉ vài giây đến vài phút nhưng có thể gây nguy hiểm nếu bệnh nhân đang lái xe hơi hay đang có vài hoạt động khác. Sau đó bệnh nhân tỉnh lại và khỏe mạnh như thường. Những bệnh nhân này có thể chữa khỏi bệnh bằng một tiểu giải phẫu để đặt một pacemaker có phòng đôi ( dual-chamber pacing) . Một thử nghiệm bên Canada dùng CUA và tường trình môät tỷ số
với phẩm chất cuộc đời đă điều chỉnh với tuổi thọ ( QALY)ï là $13,159 Canadian dollars ( cỡ $8,600 US dollars). Họ kết luận là giải phẫu thì có lợi ích và công dụngï cho bệnh nhân hơn19.
CUA trong việc dùng taxane để điều trị bệnh nhân bị ung thư vú.
Một nghiên cứu CUA trên số bệnh nhân bị ung thư vú di căn ( metastatic breast cancer) đă bị lờn thuốc anthracycline ( doxorubicine) được cho trị liệu với docetaxel ( Taxotere) thay vì với paclitaxel (Taxol). Mục đích của thử nghiệm để ước lượng phí tổn bỏ thêm vào so với mỗi năm tuổi thọ đă điều chỉnh ( QALY). Mặc dù docetacxel hơi đắt hơn paclitaxel nhưng docetacxel mang lại tỷ số lợi là 0.0905 QALY cho mỗi bệnh nhân. Cái lời này tương đương với 33 ngày hoàn toàn khỏe mạnh , một thành phần đáng kể trong trọn thời gian còn lại của một người đă bị bệnh này ( tiêu biểu chỉ sống được cỡ chín tháng). Phí tổn tỷ số QALY trong nghiên cứu này là $4011 dollars cho mỗi QALY. Ðây là một trường hợp mà thuốc chỉ mang lợi chút ích lợi cho bệnh nhân, nhưng không tăng thêm được tuổi thọ cho bệnh nhân20.
Kết luận
Phí tôån săn sóc sức khỏe của người dân mỗi lúc một trở nên đắt đỏ hơn, những người có nhiệm vụ quyết định trong viêäc mua bán dược phẩm hay những dịch vụ liên hệ phải tìm đủ mọi cách để làm giảm phí tổn bằng cách dùng những phương pháp dựa vào mô hình Dược khoa Kinh tế và tường trình của những thử nghiệm lớn có giá trị để làm bản phân tích, so sánh , và sau cùng chọn lựa những thuốc mới có mặt trên thị trường với một giá hợp với ngân khoản của từng cơ quan riêng biệt . Dược Khoa Kinh tế học càng ngày càng được áp dụng nhiều hơn, hệ thống đo lường sự hữu hiệu của các cuộc thử nghiệm lâm sàng trong quá khứ chỉ căn cứ trên an toàn và hiệu quả, có nhiều khiếm khuyết , không phản ảnh đầy đủ sự phúc lợi của người bị bệnh. Những phân tích DKT hiện nay cho thấy những kết quả cuối cùng ngoài giảm bớt phí tổn, tăng thêm ích lợi, hiệu nghiệm và hữu dụng, đă mang nhiều nhân tính hơn trên phương diện nâng cao phẩm chất đời sống cho bệnh nhân. Tương lai của ngành Dược Kinh tế được áp dụng qua những bảng hướng dẫn đă bắt đầu được chấp nhận và hợp thức hóa như một quy luật hay môn học, và cái nhìn khởi thủy chỉ coi Kinh tế ngành Dược là một công cụ cho nghiên cứu thị trường đă giảm đi rất nhiều. Người dược sĩ hiện đại tùy theo ngành Dược đang thực hành, với một cái nhìn cẩn trọng vào những kết quả nghiên cứu thử nghiệm trong ngành Kinh tế Dược, đă và đang giữ một vai trò quan trọng trong sự góp phần vào việc cải thiện hệ thống săn sóc sức khỏe dân chúng, bảo đảm sự quân bình trong việc điều trị , điều kiện kinh tế, lâm sàng cùng mang nhiều nhân đạo tính.
Giang N. Trinh, D.Ph.
Department of Pharmacy - Methodist Healhcare
Memphis, TN
Tài liệu tham khảo.
1- Bootman JL, Townsend RJ, McGhan WF: Introduction to pharmacoeconomics, in Bootman JL, Townsend RJ, McGhan WF (eds): Principles of Pharmacoeconomics, ed 2. Cincinnati, Ohio, Harvey Whitney Book, 1996 , pp 4-20.
2 -Folland S, Goodman AC, STano M: The Economics of Health and Health Care, ed 2. Upper Saddle River, N.J. Prentice Hall, 1997.
3- Arrow KJ: Uncertainty and the welfare economics of medical care. American Economics Review
53:941-973, 1963.
4- McGhan WF, Rowland C, Bootman JL: Cost benefit and cost-effectiveness: Methodologies for evaluating innovative pharmaceutical services. Am J Hosp Pharm 35:133-140, 1978.
5- Johannesson M, OBrien BJ: Economics, pharmaceuticals, and pharmacoeconomics. Medical Decision Making18 (suppl 2):S:1-S3, 1998.
6- Mehl B, Santel H: . Projecting future drug expenditures 2001. Am J Health System Pharm2001; 58:125-33.
7- National Health Expenditure 1999 . Health Spending Up in 1999: Faster Growth Expected in the Future. March/April 2001 Health Affairs, a publication of Project Hope.
8- Jacobs P: Economic dimensions of the heath care system. The Economics of Health and Medical care, ed 3. Gaithersburg, Md., Aspen, 1991, pp 47-48.
9- Pashos CL,Klein EG, Wanke LA: ISPOR Lexington, ed 1. Princeton, N.J., International Society for Pharmacoeconomics and Outcome Research, 1998.
10- Drummond M, Brandt A, Luce B, et al: Standardizing methodologies for economic evaluation in healthcare: Practice, problems, and potential. Int J Technol Assess Health Care 9: 26-36, 1993.
11- Eisenberg JM: Clinical economics: A guide to the economic analysis of clinical practice. JAMA 262:2879-2886, 1989.
12- Jones AJ, Sanchez LA. Pharmacoeconomic evaluation: Application in Managed Health Care Formulary Decision-Making. Drug Benefit Trends : 7:12-22, 32-34, 1995.
13- McGhan WF, Kitz DA: Cost benefit analysis, in in Bootman JL, Townsend RJ, McGhan WF (eds): Principles of Pharmacoeconomics, ed 2. Cincinnati, Ohio, Harvey Whitney Book, 1996 , pp 57-60.
14- Sinha A, et al. Typhoid fever in children aged less than 5 years old. Lancet 1999 ;354:734-7.
15- Panzarino PJ; Nash DB. Cost-effective treatment of depression with SSRIs. Am J Manag Care2001; 173:84
16- McMurray J. The health economics of the treatment of the hyperlipidemia and hypertension.
Am J Hyperten : 12:99S-104S, 1999.
17- Neumann PJ, Herman RC, Berenbaum PA, Weinstein MC. Method of CEA in the assessment of the new drugs for Alzheimer s disease. Psychiatr Serv : 48:1440-4, 1997;
18- Raisch D W. Understanding quality-adjusted life years and their application to pharmacoeconomics research. Ann Pharmacother : 34:906-14, 2000.
19- Milton CR , Rose MS, Kosman ML, Sheldon RS: CUA of pacemakers for the treatment of vasovagal syncope. Am J Cardiol :84:1356-9, A8, 1999.
20- Yee JC. CUA of taxane therapy. Am J Health Syst Pharm: 54: S11-5, 1997.
Glossary
Cost-effectiveness analysis: Measurement of costs and consequences of 2 alternative treatments, with costs measured in monetary terms and effectiveness measured in natural units (i.e., mm Hg, reduction in blood pressure, years of life gained, etc.).
Cost-analysis: The determination and evaluation of the resources consumed.
Cost-benefit analysis: Measurement of costs and consequences, both in monetary terms.
Cost-efficacy analysis: Measurement of costs and consequences within a controlled environment (i.e., clinical trial), with cost measured in monetary terms and efficacy measured in natural units (i.e. mm Hg, hemoglobin, etc.)
Cost-minimization analysis: Analysis and comparison of costs where 2 or more interventions have been demonstrated or assumed to be equivalent in terms of the outcome or consequence.
Cost-utility analysis: Measurements of the costs and consequences of an intervention. Consequences are measured in terms of patient preference for, or desirability of, a specific level of health status or health outcome over another (often expressed as quality adjusted life years--QALYs).
Costs: The value of resources that are consumed in providing (medical) care.
Decision analysis: An explicit quantitative approach for making decisions under conditions of uncertainty.
Direct medical costs: Costs of medical services to treat illness (e.g., hospital care, professional services, drugs, and supplies).
Discounting: The process is used in order to convert future costs and benefits of a program to present values.
Fixed costs: Costs that are unaffected by large changes in output volume.
Indirect costs: Non-health care costs associated with a condition (e.g., days missed from work, lost productivity).
Marginal costs: The change in total costs that results from producing one additional unit of output.
Meta-analysis: The statistical analysis of a large collection of results from individual studies for the purpose of integrating the findings.
Opportunity cost: The cost of using resources for some purpose, measured as their value in their next-best alternative use. The amount that an input could earn in its best alternative use, or the alternative that must be foregone when something else is produced or consumed.
Outcomes: Economic, clinical, and humanistic aspects of the consequences of a health care intervention.
Outcomes research: Studies conducted to measure the end results of medical care. The effect of the health care process on the health and well-being of patients and populations (measured in clinical, economic, and humanistic terms).
Perspective: The viewpoint from which the costs and consequences are calculated (i.e., society, third-party payers, providers, patients, health care professionals).
Sensitivity analysis: A set of procedures in which the results of a study are recalculated with alternative values from some of the study's parameters in order to test the robustness of the conclusions to altered specifications.
Utility: A measure of the preference for, or desirability of, a specific level of health status or a specific health outcome.
Variable costs: Costs that vary with changes in output volume.