Welcome visitor you can
Nam Trung Tạp Ngâm
Ngày đăng: 07-09-2013 lúc 03:00:38 - Lượt xem: 3669
Chinh phu hoài vãng lộ Dạ sắc thượng mông mông Nguyệt lạc viên thanh ngoại Nhân hành hổ tích trung Lực suy thường úy lộ Phát đoản bất câm phong Dã túc phùng tiều giả Tương liên bất tại đồng

Sóng Việt Đàm Giang phỏng dịch

THỜI KỲ LÀM QUAN Ở QUẢNG BÌNH VÀ HUẾ (1804- 1814)
Nam Trung Tạp Ngâm gồm 40 bài Nguyễn Du làm trong thời gian giữ chức quan ở Phú Xuân và Quảng Bình rồi lại trở về Phú Xuân, từ năm 1804 cho đến năm ông qua đời (1820), là 16 năm. Tập thơ này xuất hiện trong bản dịch của cụ Lê Thước, sau khi cụ Lê Thước có được bản sao chụp gồm 40 bài thơ qua thuộc quyền sở hữu của cụ Hoàng Xuân Hãn ở Pháp. Năm 1804, Nguyễn Du cáo bệnh, xin về hưu, từ quan, nhưng chỉ được có hơn một tháng thì có chỉ vua triệu vào cung giữ chức Đông các điện học sĩ, nên đánh phải đi. Bài Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành làm lúc lên đường trẩy kinh (tháng giêng năm Ất Sửu, 1805). Việc làm quan với Nguyễn Du chỉ là chuyện mưu sinh chứ không phải là chuyện công danh. Đời sống của ông rất thanh bạch. Thời gian làm Bố chánh ở Quảng Bình, gia phả chép: “Phàm những việc trong hạt, như lính tráng, dân sự kiện thưa, tiền nong, lương thực, và các hạng thuế, ông đều bàn bạc thương lượng với các quan lưu thủ, ký lục để thi hành. Chính sự giản dị, không cần tiếng tăm nên được sĩ phu và nhân dân quý mến”. Mặc dù vậy ông “ thường bị quan trên quở trách nên lấy làm uất ức, bất chí”. Điều ấy được phản ảnh vào những bài thơ trong tập này. Trong tình cảnh làm quan không mấy toại ý, nên Nguyễn Du lại ao ước về nhà ăn uống đạm bạc, làm bạn với hươu nai; quanh đi quẩn lại giống như thời ở Thái Bình và làm quan ở Bắc Hà. Qua hai tập thơ chữ Hán, Thanh Hiên thi tập và Nam Trung tạp ngâm, chúng ta hiểu thêm hơn về thân thế và tình cảm của Nguyễn Du.
79 /249
PHƯỢNG HOÀNG LỘ THƯỢNG TẢO HÀNH
Chinh phu hoài vãng lộ Dạ sắc thượng mông mông Nguyệt lạc viên thanh ngoại Nhân hành hổ tích trung Lực suy thường úy lộ Phát đoản bất câm phong Dã túc phùng tiều giả Tương liên bất tại đồng
SÁNG ĐI TRÊN ĐƯỜNG PHƯỢNG HOÀNG
Thân người đi mãi đường xa Sắc đêm cao thẳm thật là mênh mang Ngoài thành vượn hú trăng tà Ngang vùng chân hổ vết tàn còn lưu Sợ đường sức lực kém dần Ngại thêm gió thổi tóc đầu ngắn trơ Quán trọ gặp được tiều phu Cảm thương nhau xá phải chung cảnh tình
Chú thích:
Phượng Hoàng: từ tỉnh lỵ Hà Tĩnh đi vào có núi Phượng Hoàng và quán Phượng Hoàng. Năm Giáp Tí 1804 Nguyễn Du bị bệnh xin từ chức về quê nghỉ. Được hơn một tháng thì có chỉ gọi vào kinh. Bài này có thể làm trên đường vào kinh lần ấy.
80/249
MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN
Khẩn thúc giáp điệp quần (1) Thái liên trạo tiểu đĩnh Hồ thủy hà xung dung Thủy chung hữu nhân ảnh
81/249 II
Thái, thái Tây hồ liên Hoa, thực câu thướng thuyền Hoa dĩ tặng sở úy Thực dĩ tặng sở liên
82/249 III
Kim thần khứ thái liên Nải ước đông lân nữ (2) Bất tri lai bất lai Cách hoa văn tiếu ngữ
83/249 IV
Công tri liên liên hoa Thủy gia liên liên cán?
Kỳ trung hữu chân ty Khiên liên bất khảđoạn
84/249 V
Liên diệp hà thanh thanh Liên hoa kiều doanh doanh Thái chi vật thương ngẫu Min niên bất phục sinh
CHIÊM BAO THẤY HÁI SEN
I
Xắn quần cánh bướm cho gọn gàng Chèo chiếc thuyền xinh để hái sen Mặt hồ sóng nước tràn lai láng Dươi nước ẩn in bóng người mang
II
Hái, hái hoa Sen tại hồ Tây Hoa, gương đều hái bỏ lên thuyền Hoa này tặng kẻ mình kính phục Còn gương mang tặng kẻ thân tình
III
Sáng nay đi hái đóa hoa sen Hẹn cô hàng xóm cùng đi với Chưa biết có đến hay không đây? Chợt vọng qua hoa tiếng nói cười
IV
Hoa sen thì ai cũng thích Còn cuốïng có mấy ai ưa? Trong cuống ẩn những sợi tơ Bền dai không hề đứt đoạn
V
Lá cây sen thì xanh xanh Bông hoa sen thì mơn mởn Hái sen nhớ nương nhẹ ngó Kẻo năm sau hoa không mọc
Chú thích:
Bài này sáng tác thời làm quan với nhà Nguyễn, năm mơ thấy hái sen ở Hồ Tây hồi còn trẻ sống ở Thăng Long

(1) Giáp diệp quần: quần bay phấp phới như cánh bướm

(2) Có sách nói rằng “cô hàng xóm” trong bài thơ này là Hồ Xuân Hương, dựa theo một bài thơ coi như lưu bút của Hồ Xuân Hương, đó là bài thơ nôm gửi “Cần Chánh Điện Học Sĩ Nguyễn Hầu”

85/249
THU CHÍ
Hương giang nhất phiến nguyệt (1) Kim cổ hứa đa sầu Vãng sự bi thanh trủng Tân thu đáo bạch đầu Hữu hình đồ dịch dịch Vô bệnh cố câu câu (2) Hồi thủ Lam giang phố Nhàn tâm tạ bạch âu
THU ĐẾN
Mảnh trăng trên sông Hương Gợi mối sầu xa xưa Mộ xanh cảm chuyện cũ Thu mới thêm bạc đầu Có thân lận vì thân Không bệnh vẫn lom khom Nhìn lại bến Lam Giang Lòng nhàn phụ âu trắng
Chú thích:

(1) Hương Giang: tên con sông nổi tiếng chảy qua thành phố Huế, ra cửa Thuận An Mùa Xuân năm Ất Sửu (1805), ND được thăng làm Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu, và làm việc tại kinh đô Huế.

(2) Câu câu: bệnh gù lưng, Nguyễn Du ý nói làm quan cứ phải khúm núm, lom khom giống như bị gù lưng không thẳng được, ngậm ngùi vì muốn nhàn mà không được.

86/249
ĐIỆU KHUYỂN
Tuấn mã bất lão tử Liệt nữ vô thiện chung Phàm sinh phụ kỳ khí Thiên địa phi sở dung Niêm nhĩ thuộc thổ súc Dữ nhân mao cốt đồng (1) Tham tiến bất tri chỉ Vẫn thân hàn sơn trung Vẫn thân vật thán uyển Sổ thí vô toàn công
THƯƠNG CON CHÓ
Ngựa tài không chết già Nữ danh không chết bệnh Phàm sinh phú oai hùng Trời đố kỵ không dung Vật nhà cùng một loài Lông xương cùng một giống Ưng tiến không biết lùi Bỏ thây trong núi lạnh Bỏ thân chẳng nên oán Thử nữa cũng hoài công
Chú thích:
(1) Ý câu này giống như câu “Mao cốt khởi thù chúng” (lông và xương cũng giống như những con ngựa khác) trong bài Bạch mã của Đỗ Phủ. Bởi vậy nên hiểu chữ nhân ởđây như chữ chúng.
87/249
NGẪU THƯ CÔNG QUÁN BÍCH Tam Thủ
Triêu san nhất vu phạn Mộ dục nhất bồn thủy Bế môn tạ tri giao Khai song kiến kinh kỷ Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường Mỹ nhân du du cách cao tường Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ (1) Hồn hề! quy lai! bi cố hương!
NGẪU ĐỀ VÁCH NHÀ CÔNG I
Sớm lùa một bát cơm Chiều tắm một chậu nước Đóng cổng phụ lòng khách Mở cửa ngắm cây gai Ngoài cửa lan tràn cây gai mọc Người đẹp xa vời cách tường cao Chim cuốc kêu sầu báo xuân tận Hồn ơi! hãy về! buồn quê xưa!
Chú thích:
(1) Câu này vốn khuyết hai chữ, có lẽ nhà thơ dùng câu thơ cổ “Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ ”.
88/249
NGẪU THƯ CÔNG QUÁN BÍCH II
Xương hạp môn tiền xuân sắc lan Cách giang san đối Ngự Bình san (1) Xuân tòng giang thượng hà lai xứ Nhân ỷ thiên nhai trê nhất quan Mãn địa phồn thanh man dạ vũ Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn Đào hoa mạc trượng đông quân ý (2) Bàng hữu phong di tính tối toan (3)
NGẪU ĐỀ VÁCH NHÀ CÔNG II
Trước cửa điện vua xuân sắp tàn Biệt sông, đối núi Ngự Bình xa Xuân theo dòng nước vềđâu đó Người dựa theo trời bởi chức quan Đất đầy đêm mưa nghe nhộn nhịp Một giường cô quạnh lạnh khí xuân Hoa đào chớỷ xuân che chở Thần gió ghen tuông chực kề bên
Chú thích:

(1) Ngự Bình san: quả núi cách kinh thành Huế chừng năm cây số về phía nam; từ trong thành trông ra giống như bức bình phong đặït trước nơi vua ngự.

(2) Đông quân: thần mặt trời, hoặc thần phương đông. Cũng có nghĩa là thần coi mùa

xuân. Trong bài dùng theo nghĩa chúa xuân

(3) Phong di: dì gió, có nghĩa là thần gió

89/249
NGẪU THƯ CÔNG QUÁN BÍCH III
Đông vọng giang đầu vọng cố giao Phù vân vô định thủy thao thao Phong xuy cổ trủng phù vinh tận Nhật lạc bình sa chiến cốt cao Sơn nguyệt giang phong như hữu đãi Nham thê cốc ẩm bất từ lao Bình sinh dĩ tuyệt vân tiêu mộng Phạ kiến bàng-phân vấn vũ mao (1)
NGẪU ĐỀ VÁCH NHÀ CÔNG III
Đầu sông ngoảnh đông ngóng quê hương Thấy toàn mây nổi nước tuôn giòng Gió thổi mồ xưa vinh hiển cạn Chiều rơi bãi cát chiến cốt chồng Trăng núi gió sông dường có hẹn Nhà thô nước suối chằng nề hà Nay thì đã dứt mây cao mộng Vì e người hỏi cánh lông nào
Chú thích:
(1) Câu này ý nói mình là con cháu những người trước kia phục vụ nhà Lê, nay làm quan với nhà Nguyễn, nên không có người nâng đỡ.
90/249
TỐNG NHÂN
Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh (1) Giang bắc giang nam vô hạn tình Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc (2) Cố hương thuần lão thượng kham canh Triều đình hữu đạo thành quân hiếu (3) Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh Mãn sàng trê vũ bất kham thinh
TIỄN BẠN
Đường qua Hương Cần liễu xanh xanh Kẻ bắc người nam chí tình thân Vườn vua oanh diễm ghen nhau sắc Thuần già quê cũ ngon tô canh Ơn triều đình giúp ông tròn hiếu Trúc đá tôi thẹn lỗi cũng đành Ngậm ngùi canh khua riêng đối bóng Bên giường mưa mãi dạ tròng trành
Chú thích:


(1) Hương Cần: tên một làng cách kinh thành Huế chừng 4 km về phía bắc. Đường quan ra bắc đi qua đó.

(2) Thượng uyển: vườn hoa của vua, đây ý chỉ triều đình.

(3) Theo ý câu thơ này thì người bạn của Nguyễn Du làm quan ở kinh được vua cho cáo quan về phụng dưỡng cha mẹ già.

91/249
NGẪU HỨNG
Ngũ Thủ
I
Tam nguyệt xuân thì trưởng đậu miêu Hoàng hồ phì mãn bạch hồ kiêu Chủ nhân tại lữ bất quy khứ Khả tích Hồng Sơn thuộc vãn kiều
I
Xuân tháng ba mầm đậu trổ nhiều Cáo vàng hổ trắng béo thêm kiêu Chủ nhà xa mãi chưa về được Tiếc để Hồng Sơn tay bác tiều
92/249 II
Lô hoa sơ bạch, cúc sơ hoàng Thiên lý hương tâm dạ cộng trường Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt Lục âm trùng điệp bất di quang
II
Hoa lau chớm trắng, cúc chớm vàng Thương quê ngàn dặm lòng xốn xang Ráng mở cửa ra tìm trăng sáng Tối chùm bát ngát chẳng lọt trăng
93/249 III
Nhất đái ba tiêu lục phúc giang Bán gian yên tỏa tạp trần ai Khả liên đình thảo sam trừ tận Tha nhật xuân phong hà xứ lai?
III
Một rặng chuối xanh phủ ngợp sàn Căn nhà khói, lửa, bụi đóng tràn Tiếc cho cỏ trước sân trụi hết Biết có lối nào đón gió xuân?
94/249 IV
Cố hương cang hạn cửu phương nông Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng (1) Thí tự thuần lô tối quan thiết (2) Hoài quy nguyên bất đãi thu phong (3)
IV
Quê hương hạn hán hại việc nông Mười miệng trẻ thơ sắc đói cùng Rau thuần cá vược mà nhớ quá Cứ về cần chi gió thu trông
Chú thích:

(1) Thập khẩu hài nhi: theo gia phả thì người vợ đầu của Nguyễn Du, con gái Đoàn Nguyễn Thục, chỉ sinh được một người con trai, tên là Nguyễn Tứ, năm Quí Dậu theo cha đi Trung Quốc, về nhà được mấy tháng thì mất. Bà vợ kế ho Võ, sinh được một người con trai tên Nguyễn Ngũ. Lại còn có bà vợ thiếp sinh được mười trai, sáu gái.

(2) Thuần lô: rau thuần, cá vược. Ngày xưa ở nước Tần có người tên là Trương Hàn đi làm quan xa, gặp gió thu, nhớ rau thuần, cá vược ở quê nhà mà bỏ quan về. Thuần: (hay chún) tên một loại cây mọc trong chỗ nước cạn, lá hình bầu dục, dùng để nấu canh.
Lô: cá vược, hay cá lú là loài cá biển, mình dẹt màu trắng có chấm đen, đầu to vảy nhỏ, phần trước mang giống như răng cưa, vị rất ngon (cũng thường đọc là lư)
(3) Hai câu cuối bài thơ tỏ ý tác giả muốn cáo quan về ngay không cần đợi có gió thu, nhớ rau thuần cá vược, mới nghĩ đến chuyện về.

95/249 V
Hữu nhất nhân yên lương khả ai Phá y tàn lạp sắc như hôi Tị nhân đản mịch đạo bàng tẩu Tri thị Thăng Long thành lý lai
V
Có một người vẻ thật đáng thương Da sạm tro, áo nón rách bươm Tránh người đi rảo bên mé lộ Ra người Thăng Long mới về thành.
96/249
NGẪU ĐỀ
Bạch địa đình trì dạ sắc không Thâm đường tiễu tiễu há liêm lung Đinh đông châm chữ thiên gia nguyệt Tiêu tác ba tiêu nhất viện phong Thập khẩu đề cơ Hoàng-lĩnh bắc Nhất thân ngọa bệnh đế thành đông (1) Tri giao quái ngã sầu đa mộng Thiên hạ hà nhân bất mộng trung?
NGẪU ĐỀ
Đất đình trắng toát đêm lặng tanh Nhà sâu buồn bã thả lơi màn Tiếng chày nện rộn trăng ngàn nóc Lao xao tàu chuối gió trước sân Mười miệng đói dài bắc Hoành Sơn Mình ta nằm bệnh liệt thành đông Bạn trách ta cứ phiền cùng mộng Là người ai tránh được mộng mơ?
Chú thích:
Đế thành đông: phía đông đế thành tức thành Huế. Nguyễn Du được thăng Hàm Đông các điện học sĩ từ năm 1805 đến năm 1809 thì có chỉ bổ làm chức cai bạ dinh Quảng Bình.
97/249
THỦY-LIÊN ĐẠO TRUNG TẢO HÀNH (1)
Bi mạc bi hề hành đạo nan Thảo đầu lộ túc phạm suy nhan Bách niên cổ đạo giai thành hác Nhất đái bình lâm bất kiến san (2) Đa bệnh nhất thân cung đạo lộ Ngũ canh tàn mộng túc hương quan Ngẫu phùng quí khách hương dư thoại (3) Tạc tuế triều thiên xạ phóng hoàn (4)
ĐI SỚM TRÊN ĐƯỜNG THỦY-LIÊN
Thương cho đi đường nhỏ gian nan Cỏ ngập sương phơi sắc phai tàn Trăm năm đường cổ thành ngòi lạch Núi đâu chẳng thấy, phẳng rừng bằng Một thân nhiều bệnh trải đường xa Canh năm tàn mộng nhớ quê nhà Tình cờ gặp khách nghe kể chuyện Năm trước chầu vua nay được về
Chú thích:

(1) Thủy Liên: ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trước kia có tổng Thủy Liên, không biết có phải nhà thơ tả chặng đường thuộc tổng ấy không?

(2) Bình Lâm: trong bài thơ chép chữ lâm là tới. Nghi sai. Chúng tôi tạm thay chữ lâm là rừng cho thông nghĩa.

(3) Dư thoại: trong bài thơ chép là trà thoại, không có nghĩa. Nghi là dư thoại.

(4) Phóng: quan ở kinh đô được bổ ra ngoài.

98/249
TÂN THU NGẪU HỨNG
Giang Thành nhất ngọa duyệt tam chu (1) Bắc vọng gia hương thiên tận đầu Lệ Thủy Cẩm Sơn giai thi khách (2) Bạch vân hồng thụ bất thăng thu Thử thân dĩ tác phàn lung vật
Hà xứ trùng tầm hãn mạn du? Mạc hướng thiên nhai thán luân lạc Hà nam kim thị đế vương chu (3)
ĐẦU MÙA THU NGẪU HỨNG
Giang Thành nằm mãi ba năm rồi Ngóng bắc quê nhà cuối tận trời Lệ Thủy Cẩm Sơn ta là khách Mây trắng cây hồng sắc thu tươi Thân ta như vật bị nhốt lồng Đâu còn phóng khoáng thỏa chơi rong Nhìn phía chân trời than chi nữa Cũng đất nhà vua phía nam sông
Chú thích:

(1) Giang Thành: ngôi thành ở bên sông, đây chỉ thành Đông Hải bên sông Nhật Lệ, tức là tỉnh thành Quảng Bình ngày nay. Tại nơi đây Nguyễn Du làm cai bạ gần bốn năm, từ năm 1809 đến năm 1813. Như vậy bài này làm vào năm 1811.

(2) Lệ Thủy, Cẩm Sơn: tên sông và tên núi thuộc tỉnh Quảng Bình

(3) Hà Nam: phía nam sông, tức từ sông Nhật Lệ trở vào Nam.

99/249
DẠ TỌA
Tứ bích cùng thanh náo dạ miên Ải sàng di hướng khúc lan biên Vi phong bất động sương thùy địa Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên Kim cổ nhàn sầu lai túy hậu Thuần lô hương tứ tại thu tiên Bạch đầu sở kế duy y thực Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên!
ĐÊM NGỒI
Bốn vách trùng reo ngủ không yên Chuyển giường gần đến cửa song bên Gió nhẹ cũng ngừng sương sa đất Trăng tà trời sao sáng vô biên Rượu vào thêm sầu chuyện mới cũ Nhớ rau nhớ cá chẳng chờ thu Bạc đầu cũng chuyện lo cơm áo
Ca ngông ngày trẻ há được ư!
100/249
TẶNG NHÂN
Doanh doanh nhất thủy giới cô thôn Trung hữu cao nhân bất xuất môn Tiêu lộc mộng trường tâm bất cạnh (1) Tần Tùy vãng sự khẩu năng ngôn Xuân vân mãn kính quần my lộc Thu đạo đăng trường đốc tử tôn Ngã dục quải quan tòng thử thệ (2) Dữ ông thọ tuế lạc cầm tôn
TẶNG BẠN
Trong thôn xóm vắng cạnh sông xinh Có kẻ học cao tự khóa mình Mộng "tiêu lộc" đó lòng đã nguội Chuyện cũ Tần Tuỳ chẳng lặng thinh Mây xuân đầy núi hươu làm bạn Đồng thu ruộng ngát nhắc nhở con Treo mũ về quê lòng tôi muốn Cùng ông vui lão rượu đàn chơi
Chú thích:

(1) Tiêu lộc mộng: giấc mơ lấy lá chuối giấu hươu. Sách liệt tử chép: Có người hái củi, thấy hươu chạy, đón đánh chết, sợ người ta thấy, đem giấu vào hang, lấy lá chuối phủ kín, sau quên không biết giấu nơi nào, rồi cho là mình đã chiêm baọ

(2) Quản quải: treo mũ, nghĩa là từ quan. Đời nhà Hán có người tên là Phùng Minh, thấy Vương Mãn giết con, bèn nói: "Tam cương đã tuyệt, mình không bỏđi thì sẽ mắc vạ". Liền đó, cởi mũ treo ở của thành đem vợ con trốn ra bể. Về sau người ta dùng hai chữ "quải quan" để nói việc từ quan về nhà.

101/249
TÁI THỨ NGUYÊN VẬN
Trạm nguyên lưu thủy phát sơn thôn (1)
Nhật Lệ triều đầu dũng hải môn (2) Thanh Vị trọc Kinh đồng bất túc (3) Hoàn hoa lục trúc lưỡng vong ngôn (4) Tuế thu truật mễ kham cung khách Thiên giả tùng niên cập bão tôn Phù thế kỷ kinh tang lỗ biến Sàn đầu y cựu tửu doanh tôn
HỌA THEO BÀI TRƯỚC TẶNG BẠN
Nước sông Trạm nguồn từ núi xinh Nước sông cửa Lệ biển vỗ mình Vị Kinh trong đục giòng chảy miết Vàng hoa, xanh trúc đều lặïng thinh Lúa nếp hàng năm dưđãi khách Trời cho tuổi lão có cháu đàn Cuộc thế biến đổi dâu hóa muối Đầu giường như trước rượu vẫn tràn
Chú thích:

(1) Trạm nguyên: sông Trạm thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

(2) Nhật Lệ: tên một con sông phát nguyên từ dãy Trường Sơn quan tỉnh lỵ Quảng Bình chảy ra cửa Nhật Lệ

(3) Vị, Kinh: tên hai con sông ở phía tây bắc Trung Quốc, thuộc phần đất hai tỉnh Cam Túc và Thiểm Tâỵ Nước sông Vị trong, nước sông Kinh đục, khi nước hai sông nhập làm một, thì trong đục chia nhau rõ rệt, do đó người ta dùng hai tiếng Kinh Vị để gợi ý trong đục khác nhaụ

(4) Hoàng hoa, lục trúc: hoa vàng, trúc xanh chỉ bạn và mình.

102/249
TẠP NGÂM
Bạch vân sơ khởi Lệ Giang thành (1) Thử khí tài thu, thiên khí thanh Thành ngoại sơn sơn giai mộ sắc Giang đầu thụ thụ các thu thanh Tha hương bạch phát lão bất tử Tạc tuế hoàng hoa kim cánh sinh Vị ngã Hồng Sơn tạ tùng thạch Tái vô diện mục kiến đồng minh
VIẾT CHƠI
Trên thành sông Lệ mây trắng giăng Hơi nắng vừa hết khí thu sang Ngoài thành núi núi sắc chiều nhuốm Đầu sông cây cối tiếng thu vang Xa quê đầu bạc già còn sống Cúc vàng năm trước lại nở rồi Tạ từ non Lĩnh giùm ta nhé Mặt nào nhìn lại bạn cùng thời.
Chú thích:
(1) Lệ Giang thành: bức thành bên sông Nhật Lệ, tức là tỉnh thành Quảng Bình.
103/249
GIANG ĐẦU TẢN BỘ I
Tản phát cuồng ca tứ sở chi Lục tần phong khởi, tịch dương vi Bạch vân lưu thủy đồng vô tận Ngư phủ phù âu lưỡng bất nghi Vô lụy vịưng chiêu quỉ trách (1) Bất tài đa khủng tốc quan phi (2) Niên niên thu sắc hồn như hử Nhân tại tha hương bất tự tri
DẠO CHƠI ĐẦU SÔNG
Xõa tóc hát sằng bước lanh quanh Trong chiều gió động đám rau xanh Mây trắng nước trôi vẫn còn mãi Chim âu, ngư phủ chung lòng thành Không lụy người chẳng e quỷ trách Kém tài nên khiếp việc quan sai Hàng năm thu sắc vẫn thế cả Chỉ khách tha phương không biết hoài
Chú thích:

(1) Quỉ: ởđâyy chỉ những người ác

(2) Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Khi ra làm quan ông thường bị quan trên quở trách nên lấy làm uất ức, bực trí". Có lẽ là nói thời kỳ này.

II
Xúc ca thanh đoản mạn thanh trường Bạch phát tiêu tiêu cổ đạo bàng Tế giản thủy thanh lưu tích vũ Bình sa nhân ảnh tại tà dương Quyên ai mạc báo sinh hà bổ (1) Nhi nữ thành quần tử bất phương Hồi thủ cố hương thu sắc viễn Hoành sơn vân thụ chính thương thương
DẠO CHƠI ĐẦU SÔNG II
Nhanh chậm ngắn dài tiếng ca đưa Tóc bạc phơ phơ dạo lối xưa Nước mưa lạch nhỏ reo róc rách Chiều soi trên cát bóng người qua Hưởng ơn chưa đáp sống lây lất Trai gái cảđàn chết cũng cam Ngoảnh nhìn quê cũ đường xa lắc Hoành sơn xanh mát núi cùng cây.
Chú thích:
(1) Quyên ai: quyên là giọt nước, ai là hạt bụi. Nghĩa bóng là mảy may. Đỗ Phủ có câu thơ Vị hữu quyên ai đáp thành triều (chưa báo đáp được nhà vua một mảy may).
105/249
NGẪU ĐẮC
Cô thành nhật mộ khởi âm vân Thanh thảo man man đáo hải tần Khoáng dã biến mai vô chủ cốt Thù phương độc thác hữu quan thân Sự lai đồ lệ giai kiêu ngã Lão khứ văn chương diệc tị nhân Vọng ngoại Hồng Sơn tam bách lý Tương tòng há xứ vấn tiền lân
TÌNH CỜ LÀM ĐƯỢC THƠ
Chiều về mây phủ thành vắng tanh Cỏ mướt trải dài đến biển xanh Đồng hoang xương lấp mộ vô chủ Chốn xa cô quạnh một thân quan Khi có việc nghênh ngang nha chức
Thân già văn chương cũng lánh xa Ngóng núi Hồng ngoài ba trăm dặm Xóm cũ nơi nào biết hỏi thăm.
106/249
PHÁO ĐÀI (1)
Nam bắc xa thư khánh đại đồng (2) Pháo đài hư thiết thổ thành đông Sơn băng thạch liệt thành do tráng Hán đoạt Tần tranh sự dĩ không (3) Tạc giả đại khuy sinh vật đức Nhĩ lai bất quý sát nhân công Thanh bình thì tiết vô tranh chiến Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông
PHÁO ĐÀI
Nam Bắc, xe, chữ cận hòa đồng Pháo đài bỏ vắng đất thành đông Núi lở, đá tan thành còn vững Hán Tần tranh chấp rồi cũng xong Ngay trước tổn đức lành muôn vật Thời nay chém giết hết là công Thời bình chiến tranh không còn nữa Trâu bò cầy cuốc trọng nghề nông.
Chú thích:

(1) Pháo đài: đây chỉ pháo đài đặt ở Lũy Thầy trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Khi Nguyễn Du làm cai bạ Quảng Bình thì việc phân tranh đã chấm dứt, pháo đài tuy còn, nhưng không cần đến nữa.

(2) Xe thư đại đồng: xe cùng cỡ, chữ viết cùng thể, do câu sách trung dung: “Xa đồng quĩ, thư đồng văn”, chỉ đất nước được thống nhất.

(3) Hán Tần: chỉ Trịnh Nguyễn.

107/249
THÀNH HẠ KHÍ MÃ
Thùy gia lão mã khí thành âm Mao ám bì can sấu bất câm Thạch lũy thu hàn kinh thảo đoản Sa trường nhật mộ trận vân thâm Cơ lai bất tác cầu nhân thái
Lão khứ chung hoài báo quốc tâm Nại đắc phong sương toàn nhĩ tính Mạc giao ky trập tái tương xâm
CON NGỰA BỎỞ CHÂN THÀNH
Ngựa già nhà ai cạnh chân thành Lông sạm, da bọc xương gầy xanh Lối đá cỏ thu lạnh xơ xác Xa xa chiều xuống mây vờn quanh Bụng có đói chẳng cần ai giúp Thân tuy già vẫn giữ lòng trung Đã quen sương gió trời cho tính Chớ lại để thân nịt đai cương.
108/249
VỌNG THIÊN-THAI TỰ
Thiên-thai sơn tại đế thành đông (1) Cách nhất điều giang tự bất thông Cổ tự thu mai hoàng diệp lý, Tiên triều tăng lão bạch vân trung Khả liên bạch phát cung khu dịch Bất dữ thanh sơn tương thủy chung Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo Cảnh-Hưng do quải cựu thời chung (2)
108/249
TRÔNG LÊN CHÙA THIÊN THAI
Núi Thiên-thai thành Huế phương đông Khó tới lui cách một giòng sông Chùa xưa lá thu vàng phủ kín Triều cũ tăng già bạc mây bông Thương mình đầu bạc còn long đong Trung nghĩa chưa tròn cùng núi sông Nhớ lại năm trước từng thăm viếng Cảnh-Hưng thời cũ còn treo chuông.
Chú thích:

(1) Thiên Thai sơn: núi Thiên Thai ở phía đông thành Huế

(2) Cảnh-Hưng: niên hiệu Lê Hiển Tông (1740- 1786).

Câu thơ này (còn thấy treo quả chuông thời Cảnh Hưng) chỉ là một câu thơ hoài cổ.
109/249
GIẢN CÔNG BỘ THIÊM SỰ TRẦN (1)
Thanh sơn ngoại hữu bất qui nhân (2) Sơn Bắc sơn Nam tẫn bạch vân Thất nguyệt hựu phùng thu đáo nhãn Thiên nhai không đái lão tùy thân Bách niên cổ lũy yên hà hợp (3) Nhất đái hàn sa thảo thụ phânÝ biến lan can vô dữ ngữ Kỷ hồi kinh tọa ức Trần Tuân (4)
GỬI ÔNG TRẦN THIÊM SỰ BỘ CÔNG I
Ngoài non xanh có kẻ chưa về Bắc nam giăng mắc mây bốn bề Tiết thu tháng bẩy đà thấy rõ Góc trời già cả theo rề rề Hàng trăm năm mây tụ lũy thành Dải cát lạnh chia lìa cây cỏ Tưa lan can chẳng người trò chuyện Giật mình nghĩ gặp Trần trong mơ!
Chú thích:

(1) Theo câu cuối cùng thì ông Thiềm sự họ Trần này có lẽ là Trần văn Tuân, làm tham tri Bộ Lại dưới triều Gia Long đồng thời với Nguyễn Du

(2) Tự nói mình

(3) Bài này làm lúc ở Quảng Bình cho nên mới nói đến "bách niên cổ luỹ", chỉ Luỹ Thầy, bức thành ở Quảng Bình, nơi xẩy ra những trận đánh nhau kịch liệt giữ họ Trịnh và họ Nguyễn, cũng như giữa quân Gia Long và quân Tây Sơn.

(4) Kinh tọa: do tích Trần Tuân tự Mạnh Công người Hán to lớn vạm vỡ, tính mến khách thường tháo chốt xe cuả khách ném xuống giếng để lưu khách lại. Ông đi dến đâu ai cũng trọng vọng. Có người trùng tên cũng xưng là Trần Mạnh công mỗi khi đến nhà ai, mọi người đều kinh động nhưng khi vào thì biết là không phải , do đó người ta đặt cho cái tên là “Kinh tọa”. Câu này ý Nguyễn Du muốn nói là người mình nhớ trùng tên với Trần Tuân.

110/249
GIẢN CÔNG BỘ THIÊM SỰ TRẦN II
Thanh phong niểu niểu tự giang tân Minh nguyệt thanh sơn thướng hải tần Nan đắc tương phùng như thử da Khả liên đồng thị vị quy nhânÂm phù tuế vãn sinh tiên đố U thất thu hàn hiện quỉ lân Dạ độc minh minh Chiêu Ẩn phú Hồng Sơn tàm phụ nhất sơn vân
GỬI ÔNG TRẦN, THIÊM SỰ BỘ CÔNG II
Gió mát hiu hiu thổi từ sông Trăng sáng núi xanh hướng bể trông Gặp nhau nhưđêm nay thật khó Thân phận đôi ta khách tha phươngSách Âm phù mốc nẩy mọt khôn Nhà tối thu rét quỷ dọa hồn Bài phú Chiêu Ẩn đêm đọc rõ Thẹn lòng ta phụ núi mây Hồng
Chú thích:

(1) Âm phù: tức Âm phù kinh, một bộ sách cổ cuả Trung Quốc, nói về đạo lão, đạo tiên

(2) Chiêu Ẩn phuù: chỉ bài phú Chiêu Ẩn sĩ cuả học trò Hoài Nam Tiểu Sơn đời Hán, đại ý hiệu triệu các bậc còn đi ởẩn.

111/249
THU NHẬT KÝ HỨNG
Tây phong tài đáo bất quy nhân Đốn giác hàn uy dĩ thập phần Cố quốc hà sơn khan lạc nhật Tha hương thân thế thác phù vân Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị Hà xứ thu thanh tac dạ văn Tự sẩn bạch đầu khiếm thu thập Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân
NGÀY THU CẢM HỨNG
Gió tây vừa viếng khách ly hương Thấy đà lạnh lẽo mười phần vương Quê nhà sông núi ngày đã tắt
Đất khách thân ta gửi mây nương Hôm nay chợt sợ cảnh già mang Đêm qua nghe thoảng tiếng thu vang Cười thầm đầu bạc tính toán vụng Rơi rụng ngoài sân đầy lá vàng
112/249
SƠN TRUNG TỨC-SỰ (1)
Điệp điệp tằng loan thạch tác đôi Yên la bố địa mật nan khai (2) Hốt phùng hãi thú thụ gian xuất Tri hữu tiều phu lâm hạ lai. Thiêu dã tân ngân thanh thảo tận Ỷ sơn cựu kính bạch vân thôi. Sơn linh cố tuyệt khinh phì lộ (3) Biến liệt nguy cương dữ hiểm nhai
TRONG NÚI TÚC SỰ
Núi cao trùng điệp đá chất đầy Cỏ Yên La mọc chằng chịt dây Kìa con thú hãi hoảng hốt chạy Có người hái củi dưới rừng đây Vết cháy cỏ xanh còn dấu vết Mây trắng ùn lên núi đường về Thần núi cố tình ngăn khách quý Gò cao, vách đá hiểm muôn bề
Chú thích:

(1) Trong thời gian làm quan ở Quảng Bình, ND có xin về quê nghỉ hai tháng vào mùa thu năm Nhâm thân (1812), lấy cớ về xây mộ ông Nguyễn Nễ . Bài thơ này làm vào hồi đó.

(2) Yên la: tên một loại cỏ dây mọc lan trên mặt đất

(3) Khinh phì: do câu phi mã, khinh cừu (cưỡi ngựa béo, mặc áo cừu) trong sách Luận ngữ, ý nói người phong lưu sang trọng

113/249
ĐỘ LINH GIANG
Bình sa tận xứ thuỷ thiên phù Hạo hạo yên ba cổ độ thu
Nhất vọng tân nhai thông cự hải Lịch triều cương giới tại trung lưu Tam quân cựu bích phi hoàng diệp (1) Bách chiến tàn hài ngoạ lục vu Bắc thướng thổ dân mạc tương tị Táp niên tiền thị ngã đông chu
QUA ĐÒ SÔNG GIANH
Tuốt xa bãi cát nước trời liền Bến xưa thu khói sóng triền miên Mắt nhìn sông chảy thông ra biển Triều xưa giòng nước vạch hai bên Ba quân thành cũ lá vàng bay Xương tàn trăm trận cỏ xanh bầy Người dân vùng bắc chớ tị ngại Ba mươi năm trước bạn vui vầy.
Chú thích:
Linh Giang: sông Gianh, thuộc tỉnh QUảng Bình, thời xưa là con sông chia cách hai miền Nam Bắc.
(1) Cựu Bích: luỹ cũ, chỉ Luỹ Thầy.
114/249
NỄ GIANG KHẨU HƯƠNG VỌNG
Vọng vọng gia hương tự nhật biên (1) Hoành Sơn chỉ cách nhất sơn điên Khả liên qui lộ tài tam nhật Độc bão hương tâm dĩ tứ niên (2) Yến đảo thu tàn thanh nhập hải Nễ giang trào hướng bạch hàm thiên Ngoại châu kim dữ ngô châu biệt Khán khán nhân phong bất tự tiền
NGÓNG VỀ QUÊ HƯƠNG TỪ CỬA SÔNG NỄ
Ngong ngóng quê hương xa tít trời Dù cách Hoành Sơn một núi thôi Đường đi dây đó ba ngày tới Mà ôm nỗi nhớ bốn năm rồi Hòn Yến mùa thu xanh quyện biển Triều lên sông Nễ bạc ánh dương
Châu này khác hẳn châu ta cũ Nhìn dân phong tục biết hai đường.
Chú thích:
Nễ Giang: tên một con sông ở phía bắc tỉnh Quảng Bình gồm đèo Ngang đi vào, tức sông Ròn

(1) Nhật biên: bên mặt trời, nghĩa bóng chỉ một nơi xa

(2) Tứ niên: chỉ thời gian tác giả làm cai ba.Quảng Bình từ năm Kỷ Tị (1809) đến năm Nhâm Thân (1812). Bài thơ này làm vào cuối năm 1812.

115/249
Y NGUYÊN VẬN KÝ THANH OAI NGÔ TỨ NGUYÊN
Nhất dạ tây phong đáo hải mi Đồng niên giao nghị thượng y y Đại canh hữu thiệt sinh trường túc (1) Khứ quốc hà tâm lão bất quy Tiêu khát nhật tăng Tư Mã bệnh (2) Mộnh hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi (3) Lâm giang vị cảm đề Anh Võ (4) Hoàn hữu trung nguyên nhất đại nhi (5)
HOẠ BÀI GỬI ÔNG NGÔ TỨ NGUYÊN Ở THANH OAI
Trên bờ biển một đêm gió thổi Tình bạn đồng năm vẫn chẳng phôi Miệng lưỡi thay cày anh sống đủ Tôi già thân đất khách vẫn trôi Anh: tiểu đường bệnh Tương càng nặng Tôi mộng thơ gửi Đỗ hàng đêm Anh Võ qua sông thơ chưa đặng Tài cao thêm kẻ đất trung nguyên.
Chú thích:
Thanh Oai: tên huyện ở Hà Đông (nay thuộc Hà Sơn Bình), quê của Ngô Tứ Nguyên (không rõ tên thật là gì).

(1) Đại canh hữu thiệt: dùng lưỡi tahy cày, nghĩa là dạy học trò.

(2) Tiêu khát: bệnh uống nhiều nước, tức bệnh đái ra chất đường. Tư Mã Tương Như mắc bệnh nàỵ

(3) Thiếu Lăng: tên hiệu của Đỗ Phủ, một nhà thơ lớn đời Đường (Trung quốc).

(4) Anh Võ: tức Anh Võ Châu, tên một bãi cát ở tây nam thành Vũ Xương, giữa sông Trường Giang. Trong bài thơ của Thôi Hiệu đề lầu Hoàng Hạc, có câu: Phương thảo thê
thê Anh Võ châu. Đây nhắc lại tích Lý Bạch thấy bài thơ Thôi Hiệu hay quá, không đề thơ nữa.
(5) Trong tập này, tác giả không ghi bài nguyên xướng.

116/249
TỐNG NGÔ NHƯ SƠN CÔNG XUẤT NGHỆ AN
Cẩm La giang thượng khấu chinh an (1) Bát hội phi nan tích biệt nan Bát đại kỳ văn hoa lưỡng quốc (2) Nhất xa cao vũ nhận toàn Hoan (3) Nhân tòng đạm bạc tư vi chính Thiên vị kiềm lê bất phóng nhàn Bắc vọnh Hồng sơn khai đức diệu Thiên nhai cử tửu khách hương quan
TỐNG ÔNG NGÔ NHỮ SƠN RA LÀM HIỆP TRẤN NGHỆ AN
Bến Cẩm lưu ngựa tiễn ông đi Gặp nhau không bõ khó biệt ly Văn như tám đại gia hai nước Châu Hoan hưởng mưa vết ông di Bình dị tính giúp việc công chính Cũng vì dân nên chẳng thể nhàn Trông về Hồng Lĩnh thấy sao đức Chén rượu mừng quê xa dặm ngàn.
Chú thích:
Ngô Nhữ Sơn: tức Ngô Nhân Tĩnh, tự Nhữ Sơn, nghuyên người Trung Quốc sang ở Gia Định, thành người Việt Nam. Ông học giỏi thơ hay.Tháng giêng năm Gia Long thứ mười (1811), ông đang làm quan tham trị Bộ Hộở Huế, được bổ hiệp trấn Nghệ An. Lúc đó Nguyễn Du đang làm cai bạ Quảng Bình, có thơ này tiễn ông.

(1) Cẩm La: Không biết ởđâu, có lẽ là ở Quảng Bình, vì Nguyễn Du gặp Ngô Nhữ Sơn ở Quảng Bình.

(2) Bát đại kỳ văn: tức văn chương của tám bực đại gia Đường Tống. Hoa lưỡng quốc: làm đẹp hai nước, chỉ nước ta và Trung Quốc

(3) Ý câu thơ nói: ông thi hành chính sách tốt, nhân dân Nghệ An được nhờ như cây cối gặp mưa . Năm ấy, dân NGhệ Tĩnh đói kém, thuế tô, thuếđiền thiếu kể tới mười vạn. Khi Nhân Tĩng đến nơi có tâu về triều xin hoãn thâu thuế.

117/249
ĐAI TÁC CỬU THÚ TƯ QUY I
Quan ngoại thu phong tống địch xuy Ban Siêu đầu bạch vị thành quy Thập niên hứa quốc quân ân trọng Thiên lý ly gia lữ mộng trì Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn Triêu vân danh lợi nhãn tiền phi Lũng thiên tuế tuế qua điền thục (1) Khổ tận lai cam thượng hữu kỳ
BÀI THƠ CỦA NGƯỜI ĐI THÚ ĐÃ LÂU CHƯA VỀ I
Ngoài ải tiếng sáo gió thu đưa Đầu bạc chưa về Ban Siêu xưa Ơn vua cao mười năm phụng quốc Ngàn dặm xa giấc mộng vẫn dư Vinh hiển gấm đêm thân nhưảnh Lợi danh ngày sớm đổi như mây Ruộng dưa lại chín thêm lần nữa Hết khổ đến sướng sẽ có ngày.
Chú thích:
Ban Siêu: người đời Đông Hán, đi chinh phục các nước Tây vực ở tây bắc Trung Quốc, xa nhà hơn ba mươi năm, khi già mới về.
(1) Qua điền thục: ruộng dưa chín. Theo Tả truyện: Liên xứng và Quản Chi Phủđi thú đất Quỷ Khâu, khi đi là mùa dưa chín, hẹn đến mùa dưa năm sau sẽ được về. Đây nói năm nào cũng dưa chín tức là đi thú đã lâu năm chưa về.
118/249
ĐẠI TÁC CỬU THÚ TƯ QUI II
Thiên nhận Hoành Sơn nhất đái hà Bạch vân hồi thủ cách thiên nha (nhai) Tân thu khí hậu thôi hàn chử Cố quốc quan sơn ký dạ già Thiên địa nhất thân trung dịch hiếu Phong trần vạn lý quốc phong gia Nguyệt trung hoành địch thái vô lại Bán dạ giang thành suy “Lạc hoa” (1)
BÀI THƠ CHO NGƯỜI ĐI THÚ LÂU NĂM CHƯA VỀ II
Hoành Sơn cao ngất, một dòng sông Ngoảnh nhìn mây trắng trời xa trông
Thu về khí lạnh tiếng chày vải Quê cũ kèn đêm gợi nhớ mong Trời đất một thân trung thay hiếu Ngàn dặm trần ai nước làm nhà Đêm trăng tiếng sáo thảm sầu quá Nửa đêm vẳng khúc "Mai Rụng Hoa"
Chú thích:
(1) Lạc hoa: Hoa mai lạc hay Lạc mai hoa là tên một khúc địch, điệu não nùng, làm cho người lữ khách, chinh phu nghe mà sầu thảm, tưởng nhớ quê hương.
Sóng Việt Đàm Giang phỏng dịch
24 November 2005
Chia sẻ:
Bookmark and Share
Các bài viết liên quan

Thêm bình luận mới

Mã bảo vệ Refresh

VPHA Video
VPHA USA PHOTO